Thủ tục li hôn

Câu hỏi:

Chị Nguyễn Thị Thu Trang, Địa chỉ: Phường Dương Nội – Quận Hà Đông- TP. Hà Nội đề nghị Luật sư tư vấn về các vấn đề như sau:

1. Cuối năm 2011, tôi có mâu thuẫn khác lớn với chông và đi đến quyết định li hôn. Hình thức li hôn là thuận tình. Trong thời gian ly hôn tới nay là 2 tháng, tôi cảm thấy không thỏa đáng về quyền lợi và trách nhiệm của từng bên.

 
Quy trình giải quyết li hôn của chúng tôi bị thẩm phán cắt gọn không có khâu hòa giải. Chúng tôi chỉ lên tòa một lần và đi thẳng vào thỏa thuận, bị bất ngờ khi thẩm phán cho 2 vợ chồng tôi kí khống vào 5 tờ biên bản chưa điền thong tin và nhắc là “ khi nào tòa gọi thì lên”. Tôi đợi 1 thời gian dài không thấy tòa gọi lên, tôi chủ động gọi điện cho thẩm phán mới hay đã có quyết định “lên mà lấy”. Đến giờ tôi cũng không ngờ thủ tục li hôn lại đơn giản đến thế và khi thỏa thuận tôi có luống cuống nghe theo lời khuyên của thẩm phán và đề xuất của chồng là:

 
+ Tôi là người nuôi con, nhưng chồng tôi không chu cấp hỗ trợ về kinh tế, còn tình cảm thì anh quan tâm được đến đâu thì hay đến đó, kết quả là 1 năm nay anh thưm con không quá 1 lần (tự giác đến)
+ Các khoản nợ chung khi làm ăn không nên phân chia, tìa sản không tính toán, tôi chịu tất…
Gần đây có dịp gặp lại chồng và tìm hiểu nội tâm anh ấy, tôi được biết từ khi li hôn anh T trở lên tha hóa, rất giận tôi vì đã li hôn với chồng. Vì tôi anh gạt đi trách nhiệm bản thân với con cái, sống rất bi quan, không có niềm tin ở bất cứ điều gì, sống chỉ để tồn tại không mục đích, không lí tưởng… Biết là tình cảm vẫn còn song vì cái tôi lớn anh T không kết hôn lại.

 
Xét thây hậu quả của việc li hôn gấp gáp khiến gia đình tôi mất mát quá lớn về tinh thần, tình cảm, kinh tế và thậm chí cả nhân cách con người.

 
Vậy để vẹn tình đạt lí tôi khẩn khoản nhờ Luật sư ngày nay giúp tôi có thể kháng quyết. mục đích: nhằm vô hiệu lực quyết định đã li hôn, nếu 1 trong 2 vợ chồng tôi vẫn quyết li hôn thì người đó đứng đơn và tòa phải giải quyết đúng trình tự.

Trả lời:
Thuận tình ly hôn theo quy định tại Điều 90 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 (sửa đổi bổ sung năm 2010) có quy định:
Ly hôn đồng thuận là cả hai bai tự nguyện đồng ý ly hôn, cùng ký vào đơn xin ly hôn. Theo quy định của pháp luật, khi giải quyết ly hôn đồng thuận, tòa án vẫn phải tiến hành hòa giải đoàn tụ. Nếu hòa giải đoàn tụ không thành, tòa án lập biên bản về việc đồng thuận ly hôn và hòa giải không thành.
+ Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, nếu Tòa án hòa giải không thành, xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định.
+ Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hòa giải không thành, nếu hai bên đương sự không thay đổi nội dung yêu cầu Công nhận thuận tình ly hôn thì Tòa án ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn.
 Quyết định công nhận đồng thuận ly hôn có hiệu lực pháp luật ngay, các bên không có quyền kháng cáo,Viện Kiểm sát không có quyền kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.
Về thời điểm có hiệu lực của bản án, quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự thì Bộ luật Tố tụng dân sự quy định như sau:
Điều 17 Bộ luật Tố tụng dân sự:....Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật; đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật”.
Điều 188 Bộ luật tố tụng dân sự:. Hiệu lực của quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự
1. Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
2. Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thoả thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe doạ hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội”.
Điều 283. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:
1. Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;
2. Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;
3. Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.
Căn cứ vào quy định của  “Điều 284 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi năm 2011 quy định về phát hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm như sau:
1. Trong thời hạn một năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đó thì đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản với những người có quyền kháng nghị quy định tại Điều 285 của Bộ luật này để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.
2. Trường hợp Tòa án, Viện kiểm sát hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì phải thông báo bằng văn bản cho người có quyền kháng nghị quy định tại Điều 285 của Bộ luật này.”
Tóm lại: Nếu muốn được xem xét giải quyết lại bản án dân sự phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm thì trong thời hạn một năm kể từ ngày tuyên án, bạn cần làm đơn khiếu nại lên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị cho xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm.
Nội dung đơn khiếu nại cần căn cứ theo quy định tại Điều 284a, đặc biệt lưu ý phải có kèm theo bản án và những chứng cứ chứng minh cho lý do mà bạn yêu cầu xem lại theo thủ tục giám đốc thẩm. Lý do đề nghị (theo điểm d khoản 1 Điều 284a) của đơn cần căn cứ vào Điều 283 để nêu ngắn gọn những căn cứ mà bạn cho rằng cần phải xem lại bản án phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm.